CHỨC NĂNG CƠ BẢN CỦA GIA ĐÌNH, THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU XÃ HỘI HỌC GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI LĨNH VỰC PHÁP LUẬT


Gia đình là nơi “chôn rau cắt rốn”,  là chốn dừng chân của mỗi cá nhân sau một ngày làm việc mệt mỏi. Nơi ấy chứa đựng biết bao tình cảm thiêng liêng và sâu sắc mà chắc hẳn sẽ không ai quên. “ Mỗi cây mỗi hoa mỗi nhà mỗi cảnh”  tuy khác nhau nhưng gia đình là tế bào của xã hội. Gia đình có vững mạnh thì xã hội mới văn minh. Không ai có thể phủ nhận được vai trò của gia đình đối với cá nhân và xã hội. chính vì những lí do đó nên em xin chon đề tài: “phân tích chức năng cơ bản của gia đình? Thực tiễn của việc nghiên cứu xã hội học gia đình đối với lĩnh vực pháp luật?” cho bài học kỳ lần này.
Do thời gian và điều kiện không cho phép, kiến thức của em còn hạn chế nên bài làm chắc hẳn sẽ còn thiếu sót. Vì vậy rất mong có sự đóng góp ý kiến từ quý thầy (cô) để bài làm được hoàn chỉnh hơn. Em xin chân thành cảm ơn!

I.            CHỨC NĂNG CƠ BẢN CỦA GIA ĐÌNH
1.   KHÁI NIỆM GIA ĐÌNH.
Từ lâu người ta đã coi gia đình là tế bào của xã hội. Tế bào gia đình khỏe mạnh, xã hội sẽ lành mạnh, mọi người đều có cơ hội phát triển và hưởng hạnh phúc. Tế bào gia đình lỏng nẻo, không đảm đương tốt các vai trò và chức năng của mình, xã hội có nguy cơ xáo động ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống vật chất và tinh thần của mọi thành viên trong xã hội. Củng cố nền tảng gia đình luôn là mối quan tâm của các quốc gia trên thế giới.
Vậy gia đình là gì?
Ngay từ thời nguyên thủy cho tới hiện nay, không phụ thuộc vào cách kiếm sống, gia đình luôn tồn tại và là nơi để đáp ứng những nhu cầu cơ bản cho các thành viên trong gia đình. Song để đưa ra được một cách xác định phù hợp với khái niệm gia đình, một số nhà nghiên cứu xã hội học đã đưa ra sự so sánh giữa gia đình loài người với cuộc sống lứa đôi của động vật, gia đình loài người luôn luôn bị ràng buộc theo các điều kiện văn hóa xã hội của đời sống gia đình ở con người. Gia đình ở loài người luôn bị ràng buộc bởi các quy định, các chuẩn mực giá trị, sự kiểm tra và sự tác động của xã hội; vì thế theo các nhà xã hội học, thuật ngữ gia đình chỉ nên dùng để nói về gia đình loài người.
Thực tế, gia đình là một khái niệm phức hợp bao gồm các yếu tố sinh học, tâm lý, văn hóa, kinh tế,... khiến cho nó không giống với bất kỳ một nhóm xã hội nào. Từ mỗi một góc độ nghiên cứu hay mỗi một khoa học khi xem xét về gia đình đều có thể đưa ra một khái niệm gia đình cụ thể, phù hợp với nội dung nghiên cứu phù hợp và chỉ có như vậy mới có cách tiếp cận phù hợp đến với gia đình.
Đối với xã hội học, gia đình thuộc về phạm trù cộng đồng xã hội. Vì vậy, có thể xem xét gia đình như một nhóm xã hội nhỏ, đồng thời như một thiết chế xã hội mà có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình xã hội hóa con người. Gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù, một nhóm xã hội nhỏ mà các thành viên của nó gắn bó với nhau bởi quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ con nuôi, bởi tính cộng đồng về sinh hoạt, trách nhiệm đạo đức với nhau nhằm đáp ứng những nhu cầu riêng của mỗi thành viên cũng như để thực hiện tính tất yếu của xã hội về tái sản xuất con người. (8.wikipedia)
Theo TS Ngọ Văn Nhân trong cuốn “tập bài giảng Xã hội học” cho biết:
Dưới góc độ là một thiết chế xã hội: “ Gia đình là thiết chế xã hội, trong đó những người có quan hệ ruột thịt (hoặc đặc biệt cùng chung sống). Gia đình là phạm trù biến đổi mang tính lịch sử và phản ánh văn hóa của dân tộc và thời đại. Gia đình là trường học đầu tiên có mối quan hệ biện chứng với tổng thể xã hội”
Dưới góc độ là một nhóm xã hội nhỏ (đơn vị xã hội): “gia đình là hình thức tổ chức xã hội quan trọng nhất của sinh hoạt cá nhân dựa trên hôn nhân và các quan hệ huyết thống, tức là quan hệ vợ chồng, giữa cha và mẹ, giữa anh chị  em và người thân thuộc khác cùng chung sống và có kinh tế chung”
2.   CHỨC NĂNG CỦA GIA ĐÌNH
Gia đình là yếu tố cấu thành cơ bản của cơ cấu xã hội tổng thể, gia đình phản ánh chân thực mối quan hệ xã hội đa dạng và phức tạp. Gia đình lúc đầu như Mac và Ăng ghen nói, “ là quan hệ xã hội duy nhất” gia đình là cộng đồng lao động và cộng đồng sinh hoạt, là khuôn khổ tồn tại và là thế giới của con người.  Nếu xem xét gia đình như một thiết chế xã hội thì cần hướng tới các chức năng, việc định hướng giá trị và nghĩa vụ mà gia đình phải giải quyết với tư cách là một đơn vị xã hội đặc biệt. gia đình được sinh ra tồn tại và phát triển chính là do nó sứ mệnh được đảm đương những chức năng đặc biệt mà xã hội và tự nhiên đã trao cho, không thiết chế xã hội nào có thể thay thế được. Gia đình có những chức năng cơ bản sau: 
- Chức năng kinh tế: Gia đình là một đơn vị sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội. Hơn thế nữa nó cũng là đơn vị tiêu dùng chủ yếu các sản phẩm do nền kinh tế sản xuất ra, do vậy nó là tác nhân quan trọng thúc đẩy sự phát triển của kinh tế.
        Đặc điểm: Chức năng kinh tế của gia đình Việt Nam truyền thống có những đặc điểm sau:
+ Gia đình Việt Nam truyền thống là một đơn vị kinh tế độc lập, tự sản tự tiêu
+ Người chồng, người cha trong gia đình đóng vai trò là trụ cột kinh tế, họ đồng thời nắm toàn bộ quyền kiểm soát về kinh tế gia đình
+ Sự trì trệ, máy móc và bảo thủ trong hoạt động kinh tế gia đình luôn biểu hiện cùng cơ chế tổ chức và quản lý mang tính gia trưởng
- Chức năng sinh sản: Chức năng này vốn dĩ nó tồn tại một cách tự nhiên, vì xã hội chỉ tồn tại được khi hành vi sinh sản vẫn còn được duy trì. Chức năng này được coi là một giá trị của gia đình mà từ cổ chí kim loài người phải thừa nhận. Bản thân F. Engel, một nhà duy vật vĩ đại cũng cho rằng theo quan điểm duy vật, nhân tố quyết định trong lịch sử suy cho cùng là... sự tái sản xuất ra bản thân con người, là sự truyền nòi giống. Chức năng sinh sản của gia đình là một giá trị trường tồn.
Đặc điểm: Chức năng tái sản xuất xã hội của gia đình Việt Nam truyền thống có đặc điểm là
+  Đông con là một giá trị cơ bản của gia đình và xã hội truyền thống, Từ xa xưa, con người Việt Nam đã đề cao việc duy trì nòi giống gia đình. “đông con hơn nhiều của”, “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”, “con gái là con người ta”. Con cái là thứ đáng giá hơn hết trong gia đình..
- Chức năng thỏa mãn tình cảm giữa các thành viên trong gia đình (chức năng tình cảm):
Thoả mãn tình cảm tinh thần và thể xác giữa hai vợ chồng; thỏa mãn tình cảm giữa cha mẹ và con cái (sống vì nhau), tình cảm giữa anh chị em trong gia đình (thương yêu, đùm bọc lẫn nhau). Phần đông mọi người trong xã hội đều coi gia đình là “tổ ấm”, nơi người ta đi về, nơi người ta chia sẻ với nhau về niềm vui, nỗi buồn, tức là nơi tình cảm của con người được thỏa mãn.
Đặc điểm: Chức năng tình cảm, tâm lí của gia đình Việt Nam truyền thống có đặc điểm:
+ Đề cao vai trò của các giá trị đạo đức và các giá trị đó chi phối hầu hết các mối quan hệ của gia đình.
+  Sự thương yêu, chăm sóc con cái hết lòng của cha mẹ đối với con cái, sự hiếu thảo của con cái với cha mẹ; sự gắn bó và yêu thương nhau giữa anh chị em, sự thuỷ chung, hoà thuận trong tình nghĩa vợ chồng
+ Những tình cảm đối với gia đình cũng là cội nguồn của tình làng xóm quê hương và xa hơn là tình yêu đất nước: "cáo chết ba năm quay đầu về núi". Gia đình là nơi sẻ chia, cảm nhận, của mỗi thành viên trong gia đình. Là nơi dừng chân sau một ngày làm việc mệt mỏi. Là sự gắn kết yêu thương của con người.
- Chức năng xã hội hóa – giáo dục:
+ Chức năng giáo dục: Theo lý thuyết gia đình là “tế bào của  xã hội, là yếu tố đầu tiên và cơ bản của quá trình giáo dục”. Gia đình là nơi đại bộ phận trẻ em được người lớn thường xuyên giáo dục: “Dạy con từ thưở còn thơ”. Trong môi trường gia đình, trẻ bắt đầu hình thành nhân cách, lối sống và đặc biệt là nhân sinh quan. Các bậc phụ huynh, nhất là các bà, các mẹ có ảnh hưởng rất lớn tới tương lai của đứa trẻ: Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà.
+ Chức năng xã hội hoá: Có thể coi gia đình là một xã hội thu nhỏ. Mỗi thành viên là một tính cách. Việc va chạm các tính cách khác nhau trong một gia đình là môi trường đầu tiên để trẻ em học cách hoà hợp với cộng đồng.
Đặc điểm: Chức năng xã hội hóa - giáo dục của gia đình truyền thống Việt Nam có đặc điểm sau:
+ Nhắc đến nhiều nhất trong nội dung giáo dục của gia đình là đạo đức và cách sống làm người
+ Sự đánh giá của xã hội với gia đình luôn lấy tiêu chí nhìn vào con cái
+ Mục đích giáo dục trong gia đình truyền thống khác nhau theo loại hình gia đình, những nhà nghèo khó vẫn cố gắng cho con học đến nơi đến chốn
+ Người cha thường giáo dục bằng sự nghiêm khắc, người mẹ thường giáo dục bằng sự nhân từ, "thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi"
"con hư tại mẹ, cháu hư tại bà"
Có thể tóm lại rằng, gia đình có 2 chức năng cơ bản nhất, là 2 sứ mệnh lịch sử vĩnh hằng được xã hội trao cho, đó là: sứ mệnh tái tạo ra một thế hệ mới (bao gồm chức năng sinh sản và chức năng và giáo dục đào tạo của gia đình); sứ mệnh nuôi dưỡng, chăm sóc các thành viên trong gia đình (bao gồm 2 chức năng: chức năng kinh tế,và chức năng thoả mãn những nhu cầu tâm - sinh lý tình cảm).  Hai sứ mệnh cũng là 2 chức năng cơ bản này chi phối toàn bộ các chức năng khác của gia đình như: chức năng giao tiếp tinh thần; Chức năng tổ chức thời gian rỗi; Chức năng thu nhận các phương tiện; Chức năng giáo dục bảo trợ; Chức năng đại diện; Chức năng nghỉ ngơi, giải trí...
3.   NHẬN XÉT:
Gia đình là một thực thể xã hội. Sự tồn tại của nó được xã hội thừa nhận. Như vậy bản thân gia đình đã mang một giá trị xã hội. Chính các chức năng của gia đình mới đem lại cho nó một giá trị đích thực. Cho đến nay các chức năng cơ bản của gia đình vẫn còn giữ nguyên giá trị. Sự thừa nhận các chức năng của gia đình tức là đã thừa nhận gia đình là một giá trị trong xã hội
Nhiều người cho rằng, các chức năng gia đình đang chuyển từ môi trường nhỏ sang môi trường lớn hơn. Cũng nhiều nhà nghiên cứu về gia đình đã phải thừa nhận rằng: khi xã hội có những thay đổi thì gia đình luôn có sự thích nghi, có thể là chậm hơn, thể hiện sự thủ cựu và tân tiến của nó
II. Ý NGHĨA CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU XÃ HỘI HỌC GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI LĨNH VỰC PHÁP LUẬT
1.   XÃ HỘI HỌC LÀ GÌ?
Xã hội học gia đình là một nhánh của xã hội học chuyên biệt; xã hội học gia đình là bộ môn khoa học nghiên cứu sự sinh ra, phát triển và sự hoạt động của gia đình như là một trong những hạt nhân đầu tiên của xã hội trong các điều kiện văn hóa, kinh tế - xã hội cụ thể, cũng như nghiên cứu về cơ cấu của chức năng gia đình trong xã hội; là một bộ môn xã hội học nghiên cứu về gia đình với tư cách là một thiết chế xã hội và một nhóm nhỏ. (http://vi.wikipedia.org)
2.   ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA XÃ HỘI HỌC GIA ĐÌNH
Gia đình là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau như tâm lí học, dân tộc học, dân só học, luật học.... Tuy nhiên khi nghiên cứu về gia đình thì các ngành khoa học có tác động tới đối tượng chung này ở những khía cạnh khác nhau, có sự tác động bổ sung và làm phong phú cho nhau. Trong đó, xã hội học cũng là một trong những ngành khoa học nghiên cứu về gia đình. Xã hội học gia đình chú ý đến tất cả các sự kiện hiện tượng, các vấn đề xảy ra xung quanh đời sống gia đình hiện đại, nghiên cứu những sự kiện hiện đại được lặp đi lặp lại mang tính quy luật có khuynh hướng. Đó là những sự kiện hiện tượng, những vấn đề mang tính xã hội. Như vậy, đối tượng nghiên cứu của xã hội học gia đình chính là những vấn đề xã hội của gia đình hiện đại.
Xã hội học nghiên cứu gia đình những hiện tượng xã hội trên hai phương diện:
Một là, các mối quan hệ bên trong gia đình. Bao gồm quan hệ giữa các thành viên và quan hệ giới tính.
Hai là, các mối quan hệ và sự tác động qua lại giữa gia đình và xã hội. Bao gồm có quan hệ gia đình với họ hàng, làng xã, các tổ chức sản xuất, các tổ chức chính trị và các tổ chức văn hóa....
3.   Ý NGHĨA CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU XÃ HỘI HỌC GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI LĨNH VỰC PHÁP LUẬT.
Nghiên cứu xã hội học gia đình không những có ý nghĩa đối với việc xây dụng pháp luật mà còn có vai trò lớn trong việc thực hiện pháp luật trong thực tế.
a)  ĐỐI VỚI VIỆC XÂY DỰNG PHÁP LUẬT
Xã hội học gia đình là môn koa học nghiên cứu về những sự kiện mang tính chất xã hội của gia đình như mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, quan hệ giữa gia đình với xã hôi.... đó cũng là những đối tượng nghiên cứu của ngành luật học. Dựa trên những mối quan hệ đó, pháp luật đưa ra những quy phạm điều chỉnh hành vi của con người trong các mối quan hệ nêu trên, đưa ra quyền, nghĩa vụ giữa cha mẹ và con cái, giữa anh, chị em trong gia đình, giữa vợ và chồng...
Kinh tế của gia đình là một trong những nguồn quan trọng để pháp luật điều chỉnh. Ngay trong thời kì đất nước còn chiến tranh, việc nghiên cứu xã hội học gia đình có vai quan trọng trong những chính sách pháp luật của nhà nước ta: Chiến tranh làm cho cơ cấu và quy mô gia đình thay đổi, hầu hết nam nữ thanh niên ra chiến trường đánh giặc bảo vệ tổ quốc. Trước thực trạng đó, chính sách kinh tế của Đảng chủ trương nền kinh tế bao cấp, làm ăn tập thể, các gia đình hình thành nên các hợp tác xã....ngoài mục đích tạo ra hậu phương vững chắc cho tiền tuyến thì còn nhằm làm cho các chiến sỹ ngoài mặt trận yên tâm chiến đấu. Không phải lo lắng về cuộc sống gia đình ở quê..
Sau khi chiến tranh kết thúc, vai trò hậu phương của gia đình không còn quan trọng như xưa, nhiêm vụ quan trọng của đất nước không phải là chống ngoại xâm mà là phát triển kinh tế. Bên cạnh đó, cơ chế bao cấp không còn phù hợp với nền kinh tế hiện nay. Kinh tế gia đình ngày càng có vai trò quan trọng. Vì vậy, Nhà nước ta chủ động đưa ra những chính sách nhằm phát triển kinh tế cá thể, chính sách khoán 10, khoán 100... được áp dụng triệt để. Như vậy, dựa vào chức năng của gia đình trong những điều kiên cụ thể mà pháp luật đưa ra những chính sách phù hợp nhất.
Chức năng giáo dục trong gia đình được xã hội bảo trợ và được pháp luật thừ nhận. Trên cơ sở điều kiện của các gia đình, các chính sách về giáo dục đối với con em của các hội gia đình là khác nhau. Ví dụ: về các chính sách đóng học phí đối với gia đình chính sách, hộ nghèo, dân tộc miền núi sẽ khác so với con em của gia đình thành thị, gia đình buôn bán.... ngoài ra còn liên quan đến những chính sách về khám chữa bệnh, chế độ nhà trẻ, ưu tiên việc làm...
b)   ĐỐI VỚI VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT:
Gia đình là hạt nhân của xã hội, để xã hội phát triển thì gia đình phải giàu mạnh và văn minh. Kinh tế có tác động quan trọng tới lợi ích và do đó tác động đến tư tưởng, thái độ, niềm tin của nhân dân đén pháp luật. Kinh tế là nền tảng của sự nhận thức hiểu biết pháp luật nên có tác động mạnh mẽ tới hoạt động thực hiện pháp luật của các chủ thể pháp luật. Cụ thể: khi kinh tế phát triển thì con người có điều kiện mua sắm các điều kiện nghe, nhìn  có điều kiện thỏa mãn các nhu cầu thông tin pháp luật đa dạng và cập nhật. các chương trình phổ biến giáo dục sẽ dễ dàng đến với người dân, đến với mỗi gia đình. Từ đó nhu cầu tìm hiểu pháp luật trở thành nhu cầu tự giác, thường trực trong suy nghĩ và hành động của con người.
Vai trò giáo dục gia đình có vai trò quan trọng trong việc hình thành thói quen thực hiện pháp luật trong mỗi con người. “Dạy con từ thuở lên ba” Trẻ em là những mần non tương lai của đất nước. Việc dạy dỗ con trẻ phụ thuộc nhiều vào gia đình. Đây cũng là yếu tố thúc đẩy việc tự giác thực hiên pháp luật trong thực tế nếu gia đình có phương pháp dạy tốt.
 Ngoài ra, văn hóa - lối sống cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật. những hành vi, cách sử sự của cá nhân đối với cá nhân trong gia đình, cá nhân với xã hội, giữa gia dình với xã hội... là những thành phần hình thành nên các phong tục tập quán, lối sống, đạo đức của con người, xã hội. Đó là nguồn để xây dựng pháp luật mà cũng là những hành vi trực tiếp thực hiện pháp luật hoặc là vi phạm pháp luật.

KẾT LUẬN
Gia đình là một cộng đồng người sống chung và gắn bó với nhau bởi các mối quan hệ tình cảm, quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng và hoặc quan hệ giáo dục. Gia đình có lịch sử từ rất sớm và đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài. Thực tế, gia đình có những ảnh hưởng và những tác động mạnh mẽ đến xã hội.
Gia đình là một hiện tượng xã hội tồn tại khách quan trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, nó biểu hiện mối quan hệ giữa người với người. Đó là tồn tại khách quan không thể xóa bỏ được. Vấn đề vô cùng quan trọng là lịch sử phát triển của xã hội của gia đình có liên quan đến nhiều vấn đề của xã hội và các mối quan hệ trong xã hội cho nên cần nhận thức đầy đủ mối quan hệ của gia đình vì đó là chỗ dựa tinh thần cho con người (tr.331.tập bài giảng Xã hội học gia đình, TS.Ngọ Văn Nhân.

Related Post

Previous
Next Post »