VAI TRÒ CỦA MẶT TRẬN VIỆT MINH TRONG CÁCH MẠNG THÁNG TÁM


      Đã hơn bảy thập kỷ trôi qua nhưng trong lịch sử dân tộc ta, trong ký ức và tình cảm sâu đậm của nhân dân ta chắc chắn vẫn mãi mãi ghi nhớ những hình ảnh  không thể nào xóa nhòa về Mặt trận Việt Minh – hình ảnh khiến ta liên tưởng ngay đến những năm tháng chiến tranh hào hùng của dân tộc, đến một chặng đường vẻ vang của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Mặt trận Việt minh là tên viết tắt của Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh. Mặt trận Việt minh là tổ chức tiếp nối các mặt trận dân tộc thống nhất trước đó, trực tiếp thay thế cho Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương. Mặt trận Việt minh ra đời với mục đích tập hợp lực lượng cách mạng trong cả nước cũng như giúp đỡ các dân tộc Lào và Campuchia thành lập mặt trận của mình . Tồn tại trong vòng 10 năm (1941 – 1951), Mặt trận Việt minh không những đã làm tốt nhiệm vụ đã được đề ra mà còn có nhiều đóng góp to lớn cho Cách mạng Việt Nam qua các thời kỳ trước, trong và sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Và để hiểu rõ thêm về tổ chức, hoạt động cũng như là những đóng góp to lớn của Mặt Trận Việt Minh trong cách mạng tháng Tám năm 1945 – một mốc son lịch sử không bao giờ có thể quên của cả dân tộc, em đã lựa chọn đề tài: “ Vai trò của mặt trận Việt Minh trong cách mạng tháng Tám năm 1945” để hoàn thành bài tập lớn học kỳ. 

NỘI DUNG
I, Khái quát lịch sử ra đời và phát triển của mặt trận Việt Minh giai đoạn 1941 – 1945:
1, Hội nghị lần thứ 8 ban chấp hành Trung ương Đảng (từ ngày 10 đến ngày 19 tháng 5 năm 1941) đưa đến sự ra đời của mặt trận Việt Minh:
Cuộc chiến tranh thế giới thứ hai mỗi ngày một lan rộng ra oàn thế giói,tính ác liệt của nó ngày càng tăng., phong trào giải phóng dân tộc và phong công nhân pt mạnh,
Trong tình hình đó Nguyễn Ái Quốc tiếp tục về nước(28-1-1941) trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam. Ngày 8-2-1941 Người đặt cơ quan tại Pác Bó. từ ngày 10 đến ngày 19 tháng 5 năm 1941 người đã triệu tập hội nghị lần thứ 8 ban chấp hành trung uong đảng. Tham gia hội nghị có các đồng chí trong ban chấp hành Trung ương, một số đại biểu của xứ ủy Bắc Kì, Trung Kì và một số đại biểu hoạt động ở nước ngoài.
Hội nghị đã phân tích nguồn gốc đặc điểm tính chất của các cuộc chiến tranh thế giới thứ hai. Từ đó nhận định phe phát xít nhất định sẽ thất bại, phe đồng minh chống phát xít chắc chắn sẽ giành được thắng lợi. Chủ nghĩa đế quốc sẽ suy yếu và phong trào cách mạng thế giới sẽ phát triển mạnh mẽ.
Về tình hình Đông Dương hội nghị nhận định từ khi bùng nổ chiến tranh, các tầng lớp nhân dân Đông Dương đều bị điêu đứng, quyền lợi tất cả giai cấp đều bị cướp giật. Nhiệm vụ đánh Pháp đuổi Nhật không phải là nhiệm vụ riêng của giai cấp công nhân và nông dân mà là nhiệm vụ chung của toàn thể nhân dân Đông Dương.
Về tính chất của cuộc Cách mạng, “cuộc cách mạng Đông Dương hiện tại không phải là cuộc cách mạng tư sản dân quyền, cuộc cách mạng phải giải quyết hai vấn đề phản đế và điền địa nữa, àm là cuộc cách mạng chỉ giải quyết hai vấn đề cần kíp: “dân tộc giải phóng”; vậy thì cuộc cách mạng Đông Dương trong giai đoạn hiện tại là một cuộc cách mạng dân tộc giải phóng.
Hội nghị tiếp tục thực hiện chủ trương tạm gác khẩu hiệu “đánh đổ địa chủ, chia ruộng đất cho dân cày” thay bằng khẩu hiệu ‘tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc và Việt gian chia cho dân cày nghèo”; chia lại ruộng đất công cho công bằng; giảm địa tô, giảm tức.
Hội nghị chủ trương thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất riêng cho mỗi nước Việt Nam, Lào, Campuchia.
Hội nghị quyết định phải xúc tiến công tác chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang. Đó là nhiệm vụ trung tâm của Đảng trong giai đoạn hiện tại. Trong quá trình chuẩn bị lực lượng cách mạng phát huy tính tính cực, chủ động luôn luôn sẵn sàng để khi có thời cơ đến, với lực lượng sẵn có “ta có thể lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa từng phần trong từng địa phương, cũng có thể giành sự thắng lợi mà mở đường cho một cuộc tổng khởi nghĩa lớn”
Hội nghị đã đề ra nhiệm vụ xây dựng Đảng, làm cho Đảng đủ năng lực lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của dân tộc.
Hội nghị đã chính thức bầu ra Ban chấp hành Trung ương mới,  bầu đồng chí Trường Chinh làm tổng bí thư.
Hội nghị lần thứ 8 của ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng Sản Đông Dương đã hoàn chỉnh sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng được đề ra từ hội nghị 6(11 – 1939). Những tư tưởng và đương lối đó có ý nghĩa quyết định chiều hướng phát triển của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở nước ta, dẫn đến thắng lợi của cuộc cách mạng tháng tám năm 1945.
Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh ( gọi tắt là Việt Minh) đã ra đời từ hội nghị lần thứ 8 của ban chấp hành Trung ương Đảng.
2, Những nét chính về tổ chức và hoạt động của mặt trận Việt Minh từ tháng 5/1941 đến thng 3/1945:
2.1.Về mặt tổ chức:
Giương cao ngon cờ giải phóng dân tộc và thực hiện nghị quyết của Hội nghị Trung ương lần thứ 8, ngày 25 – 10 – 1941, Mặt trận Việt Minh công bố tuyên ngôn, chương trình và điều lệ. Nêu cao ngọn cờ đại đoàn kết dân tộc, Tuyên ngôn của Mặt trận Việt Minh khẳng định “Việt Minh chủ trương liên hiệp hết thảy các giới đồng bào yêu nước, không phân biệt giàu nghèo, già trẻ, trai gái, không phân biệt tôn giáo và xu hướng chính trị, đặng cùng nhau mưu cuộc dân tộc giải phóng và sinh tồn”. Coi quyền lợi dân tộc cao hơn hết thảy, Việt Minh sẵn sàng giơ tay đón tiếp những cá nhân hay đoàn thể, không cứ theo chủ nghĩa quốc tế hay quốc gia, miễn thành thực muốn đánh Nhật – Pháp để dựng lại một nước Việt Nam tự do và độc lập”.
Về chương trình hoạt động, chương trình cứu nước của mặt trận Việt Minh gồm 44 điểm, là một hệ thống các chính sách về chính trị, kinh tế, văn hóa – giáo dục, xã hội, ngoại giao, những chính sách cụ thể đối với các tầng lớp công nhân, nông dân, binh lính, trí thức, công chức, học sinh, phụ nữ, thiếu nhi, tư sản, địa chủ, nhà buôn, người già, kẻ tàn tật. Tinh thần cơ bản của chương trình này là “cốt thực hiện hai điều mà toàn thể đồng bào đang mong ước:
1.     Làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập;
2.     Làm cho Việt Nam được sung sướng, tự do”.
Chương trình cứu nước của mặt trận Việt Minh sau được đúc kết thành 10 chính sách lớn đem thực hiện ở khu giải phóng Việt Bắc và được đại hội Quốc dân Tân Trào thông qua tháng 8 – 1945, trở thành cơ sở quan trọng để đoàn kết, tập hợp mọi lực lượng dân tộc và là chính sách cơ bản sau này của nước Việt Nam dân chủ Công hòa.
Mặt trận Việt Minh có một cơ chế tổ chức riêng, khác hẳn với cơ chế tổ chức của Đảng Cộng sản Đông Dương. Về hệ thống tổ chức, ở các xã có Ban chấp hành Việt Minh do các đoàn thể Việt Minh ở làng hay xã cử ra; tổng, huyện (hay phủ, châu, quận), tỉnh, kì có Ban chấp ủy Việt Minh cấp ấy; Việt Minh toàn quốc có Tổng bộ. Ngoài những đoàn thể cứu quốc có tính chất chính trị, cách mạng rõ rệt (như Hội công nhân cứu quốc, Hội nông dân cứu quốc, Hội phụ nữ cứu quốc, Hội thanh niên cứu quốc,...); Việt Minh còn kết nạp thêm những đoàn thể không có điều lệ, hoạt động công khai và bán công khai như Hội cứu tế thất nghiệp, Hội tương tế, Hội hiếu hỉ, nhóm học Quốc ngữ, nhóm đọc sách, xem báo,...Với chủ trương chính sách đúng đắn phù hợp với quyền lợi và nguyện vọng của mọi tầng lớp nhân dân, ngay sau khi ra đời, Mặt trận Việt Minh đã thu hút ngày càng nhiều các tầng lớp nhân dân.
2.2.Về mặt hoạt động:
Hoạt động chính của Mặt trận Việt Minh là xây dựng lực lượng chính trị, xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng căn cứ địa cách mạng, chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang tiến tới cách mạng tháng tám.
a. Xây dựng lực lượng chính trị: Là xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân.
- Mặt trân Việt Minh chủ trương thành lập các Hội cứu quốc như công nhân cứu quốc, nông dân cứu quốc, thanh niên cứu quốc, phụ nữ cứu quốc, phụ lão cứu quốc, nhi đồng cứu quốc….
- Cao Bằng là nơi thí điểm xây dựng các Hội cứu quốc. Đến năm 1942 khắp 9 châu của tỉnh Cao Bằng đều có Hội cứu quốc.
b. Xây dựng lực lượng vũ trang:
- Bộ phận nòng cốt ban đầu là đội du kích Bắc Sơn, đến năm 1941 thống nhất các đội du kích ở Bắc Sơn và Vũ Nhai thành cứu quốc quân.
- Ngày 22/12/1944 theo chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Cao Bằng, Võ
Nguyên Giáp thành lập đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân gồm 34 người do
Võ Nguyên Giáp làm đội trưởng
- Ngày 15/5/1941 tại hội nghị quân sự Bắc Kỳ đã thống nhất đội Việt Nam tuyên truyền giai phóng quân và đội Cứu quốc quân thành Việt Nam giải phóng quân.
c. Xây dựng căn cứ địa cách mạng:
- Sau khởi nghĩa Bắc Sơn thành lập căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai.
- Khi Bác mới về nước thành lập căn cứ PăcPó - Cao Bằng.
-Tháng 6/1945 Khu giải phóng Việt Bắc được thành lập gồm 6 tỉnh: Thái Nguyên, Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Giang, Bắc Cạn.
d. Chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang tiến tới Cách mạng tháng Tám:
- Ngày 7/5/1944, Tổng bộ Việt Minh ra chỉ thị “Sửa soạn khởi nghĩa” và kêu gọi nhân dân
“sắm vũ khí đuổi thù chung”. Không khí chuẩn bị khởi nghĩa sôi sục.
- Ngày 22/12/1944 đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành lập.
Hai ngày sau đội đã hạ đồn Phay Khắt và Nà Ngần (Cao Bằng)
- Ngày 9/3/1945 Nhật đảo chính Pháp, tiếp theo chỉ thị “Nhật Pháp bắn nhau và hành độnh của chúng ta” của Đảng Mặt trận Việt Minh ra lệnh kêu gọi đồng bào toàn quốc đẩy mạnh cao trào kháng Nhật cứu nước.
Như vậy đến đầu năm 1945 mọi sự chuẩn bị cho cách mạng tháng tám của Mặt trận Việt Minh cơ bản đã hoàn thành, một bầu không khí tiền khởi nghĩa sôi sục khắp cả nước báo trước giờ hành động sắp tới.
II, Vai trò của mặt trận Việt Minh trong cách mạng tháng tám năm 1945:
3 PHẦN CHÍNH NHÉ :
- Bối cảnh ra đời : Điều kiện lịch sử, xuất xứ (lí do) cơ sở ra đời, hội nghị nào chủ trương
- Vai trò : Đề ra đường lối chủ trương, tập hợp lực lượng, chuẩn bị (điều kiện), tổng khởi nghĩa giành chính quyền
- Ý nghĩa
Mặt trận Việt Minh đã có vai trò lớn trong việc đề ra đường lối chủ trương, xây dựngphát triển lực lượng chính trị cách mạng, lực lượng vũ trang cách mạng, chuẩn bị những điều kiện trực tiếp cho tổng khởi nghĩa giành chính quyền tháng Tám năm 1945.
·        Đề ra các đường lối, chủ trương, chính sách phù hợp, đúng đắn để lãnh đạo lực lượng quần chúng nhân dân:
         Dưới sự lãnh đạo của Đảng, thông qua Mặt trận Việt Minh, phong trào đấu tranh của công nhân, nông dân, học sinh, tiểu thương trong các năm 1941 – 1945 đã có những bước phát triển đáng kể.
        Trong Cao trào kháng Nhật cứu nước, việc mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất, thực hiện chính sách đoàn kết, phân hóa hàng ngũ kẻ thù, tranh thủ mọi lực lượng có thể tranh thủ, lại càng trở nên cấp thiết. Ngày 12/04/1945, mặt trận Việt Minh ra lời kêu gọi “Mấy lời tâm huyết ngỏ cùng các vị quan chức Việt Nam” và mấy lời tâm huyết ngỏ cùng các vị huynh thứ ái quốc”. Các văn kiện này góp phần đẩy nhanh quá trình phân hóa và tranh thủ một bộ phận quan lại ngụy quyền vào lúc cách mạng bùng nổ.
        Để tập hợp đông đảo nhân dân tham gia vào Cao trào kháng Nhật cứu nước, ngoài việc xác định rõ kẻ thù, mục tiêu cách mạng, mở rộng và củng cố mặt trận dân tộc thống nhất, ban hành các chủ trương chính sách đúng đắn, Đảng và mặt trận Việt Minh còn kịp thời đề ra khẩu hiệu đấu tranh thích hợp, đáp ứng nguyện vọng bức thiết của quần chúng: “Phá kho thóc, giải quyết nạn đói”.  Phong trào “phá kho thóc, giải quyết nạn đói”  của quần chúng không chỉ có ý nghĩa kinh tế trước mắt, mà còn có nội dung chính trị sâu sắc. Qua đấu tranh, quần chúng nhân dân nhận rõ muốn giành quyền sống cho mình phải đoàn kết đấu tranh đánh đổ quyền thống trị của phát xít Nhật và bè lũ bù nhìn tay sai của chúng.
       Cách mạng tháng Tám năm 1945 bùng nổ, Việt Minh tiếp tục đề ra những biện pháp đấu tranh thích hợp lãnh đạo quần chúng nhân dân khởi nghĩa dành chính quyền.
Tại Hà Nội chiều ngày 17/8/1945, đông đảo quần chúng trong các tổ chức cứu quốc thuộc nội, ngoại thành, các đội tự vệ vũ trang chiến đấu, tuyên truyền xung phong được bí mật huy động đến Nhà hát thành phố. Khi cuộc mít tinh vừa khai mạc thì cờ đỏ sao vàng xuất hiện trước đám đông. Các đội tuyên truyền xung phong Việt Minh xông lên giành lấy diễn đàn, thông báo tin Nhật đầu hàng và kêu gọi nhân dân ủng hộ Việt Minh khởi nghĩa. Sau đó, cuộc mít tinh biến thành cuộc tuần hành ủng hộ Việt Minh. Quần chúng tự động xếp thành đội ngũ, có các đội viên đội tự vệ vũ trang chiến đấu dẫn đầu đi từ Nhà hát lớn qua các phố trung tâm, hô vang khẩu hiệu: “Ủng hộ Việt Minh”, “Đả đảo bù nhìn”, “Việt Nam độc lập”,…Khí thế mạnh mẽ của cách mạng đã đưa tới thắng lợi hoàn toàn của Tổng khởi nghĩa dành chính quyền ở Hà Nội vào tối tháng Tám năm 1945.
Tại các địa phương khác, Việt Minh cũng đề ra nhiều chính sách đúng đắn lãnh đạo quần chúng nhân dân đứng lên Tổng khởi nghĩa dành chính quyền thắng lợi.
·        Xây dựng lực lượng chính trị cách mạng, tập hợp đông đảo quần chúng nhân dân dưới ngọn cờ của Đảng trong một mặt trận thống nhất, tạo cơ sở quan trọng nhất về mặt lực lượng cho tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 đi đến thắng lợi cuối cùng.
Ngay sau khi ra đời, Mặt trận Việt Minh đã tích cực thu hút ngày càng nhiều các tầng lớp nhân dân vào tổ chức của mình.
    Từ cuối năm 1941 đến năm 1942, các hội Công nhân cứu quốc, Nông dân cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Quân nhân cứu quốc, Thanh niên cứu quốc, Tự vệ cứu quốc,…đã được thành lập ở nhiều tỉnh miền Bắc, một số tỉnh miền Trung và các thành phố Hà Nội, Hải Phòng. Các tổ chức phản đế đều được chuyển sang các tổ chức cứu quốc.
Cao Bằng trở thành trung tâm của phong trào cứu nước trong cả nước. Tháng 6-1941, Ban lâm thời Việt Minh tỉnh Cao Bằng được thành lập và đến cuối năm 1941 đã xuất hiện một số xã và một số tổng hoàn toàn tham gia mặt trận Việt Minh. Sang năm 1942, Cao Bằng đã có 3 châu trong tổng số 9 châu là “châu hoàn toàn”. Ở các tỉnh khác như Lạng Sơn, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Phú Thọ, Tuyên Quang…Việt Minh cũng phát triển mạnh mẽ ở nhiều vùng nông thôn và thị xã.
Từ sau khi diễn ra hội nghị Ban thường vụ Trung ương Đảng (họp từ 25 – 28/02/1943 ở Võng La - Đông Anh - Phúc Yên), mặt trận Việt Minh đã được mở rộng hơn nữa với chủ trương liên minh với tất cả các đảng phái, các nhóm yêu nước chưa gia nhập mặt trận Việt Minh. Nhờ vậy, mặt trận đã thu được nhiều thành tựu đáng kể trong công tác đoàn kết, tập hợp lực lượng dân tộc. Trong hai năm 1943 – 1944, ở hầu hết các địa phương vùng đồng bằng miền Bắc, công tác xây dựng và củng cố các đoàn thể của mặt trận Việt Minh đã được đẩy mạnh. Không chỉ đoàn kết và tập hợp công nhân, nông dân, Mặt trận Việt Minh còn ra sức đoàn kết, tập hợp các tầng lớp khác. Năm 1943, Hội văn hóa cứu quốc Việt Nam, một thành viên của mặt trận Việt Minh ra đời, nhằm tập hợp các tri thức các nhà văn hóa. Tháng 6 – 1944, nhằm mở rộng khối đại đoàn kết dân tộc của mặt trận Việt Minh, Đảng ta đã giúp các anh em trí thức tiến bộ thành lập Đảng dân chủ Việt Minh để thu hút những thanh niên trí thức và công chức Việt Nam và mau làm tan rã hàng ngũ bọn Đại Việt thân Nhật.
Mặt trận Việt Minh không những có cơ sở rộng khắp ở trong nước mà còn có cơ sở trong đồng bào Việt kiều ở nước ngoài. Ngay sau khi Nhật vào Đông Dương, dưới sự chỉ đạo của Đảng cộng sản Đông Dương, đồng bào Việt kiều yêu nước của ta ở Vân Nam (Trung Quốc) đã thành lập Hội giải phóng Việt Nam. Mục đích của hội là đoàn kết tất cả Việt Kiều để đánh Nhật – Pháp và đòi Việt Nam độc lập. Cuối năm 1942, sau khi đã liên lạc với lực lượng cách mạng trong nước, Hội giải phóng Việt Nam được coi như một bộ phận của mặt trận Việt Minh. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của chủ tịch Hồ Chí Minh, những cán bộ của Đảng và của Mặt trận Việt Minh còn sử dụng mặt trận liên minh Trung – Việt làm hình thức hoạt động hợp pháp cho Việt Minh ở nước ngoài, làm nơi tập hợp những người Việt Nam yêu nước, lựa chọn cán bộ đưa về nước hoạt động, tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của các nước đồng minh chống phát xít đồng thời vạch trần âm mưu của Tưởng Giới Thạch và bọn giả danh cách mạng.
Chủ trương đoàn kết tập hợp lực lượng của Đảng và của Mặt trận Việt Minh trong giai đoạn từ năm 1941 đến trước Cao trào kháng Nhật cứu nước năm 1945 đã góp phần quan trọng vào việc chuẩn bị lực lượng cách mạng, chuyển cách mạng Việt Nam sang thời kỳ cao trào và tiến lên tổng khởi nghĩa, giành chính quyền về tay nhân dân.
Đúng như Đảng ta dự đoán, ngày 09/03/1945, Nhật bất ngờ đảo chính Pháp. Cuộc đảo chính đã kết thúc nhanh chóng bằng sự sụp đổ thảm bại của chính quyền thực dân Pháp. Chỉ ba ngày sau khi Nhật đảo chính Pháp, vào ngày 12 /03/1945, Ban thường vụ trung ương Đảng đã ra Chỉ thị “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Chỉ thị đã xác định kẻ thù chính, kẻ thù cụ thể trước mắt duy nhất của nhân dân Đông Dương sau cuộc đảo chính là đế quốc phát xít Nhật và chỉ rõ phải thay khẩu hiệu “đánh đuổi phát xít Nhật - Pháp” bằng khẩu hiệu “đánh đuổi phát xít Nhật”.
Đi đôi với việc xác định kẻ thù chính, kẻ thù cụ thể trước mắt, chỉ thị cũng đã nhấn mạnh đến việc phải mở rộng cơ sở của Mặt trận Việt Minh, nhằm đoàn kết tập hợp mọi lực lượng nhân dân vào Cao trào kháng Nhật cứu nước. Trong cao trào kháng Nhật cứu nước, việc mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất, thực hiện chính sách đoàn kết, phân hóa hàng ngũ kẻ thù, tranh thủ mọi lực lượng có thể tranh thủ lại càng trở nên cấp thiết. Chấp hành chủ trương chỉ đạo của Đảng, mặt trận Việt Minh đã tích cực mở rộng hơn nữa cơ sở và quy mô của mình. Ảnh hưởng của mặt trận Việt Minh lan rộng trong cả nước. Những tổ chức cứu quốc phát triển nhanh chóng. Hầu hết các tỉnh đã có cơ sở Việt Minh. Ở Nha Trang, Thừa Thiên Huế, Quảng Bình và nhiều tỉnh khác, cơ sở Việt Minh đã có ở trong các công sở và các đơn vị bảo an binh…
Thực tiễn của cao trào kháng Nhật, cứu nước và chính sách đại đoàn kết của mặt trận Việt Minh đồng thời cũng tác động mạnh mẽ đến sự phân hóa sâu sắc trong một số tổ chức, đảng phái chính trị ở nước ta lúc bấy giờ. Ngày 17 – 4 – 1945, nội các chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim được thành lập với thành phần gồm nhiều trí thức có tên tuổi. Ngay từ khi nội các này ra đời, Đảng và Mặt trận Việt Minh đã kiên quyết vạch trần bản chất phản động của chúng, thức tỉnh những người có ảo tưởng vào bánh xe độc lập của Nhật và vạch rõ chỉ có một con đường duy nhất là tiến tới thành lập một chính quyền cách mạng của nhân dân như chỉ thị của tổng bộ Việt Minh đã đưa ra ngay trước ngày nội các này thành lập. Trước thắng lợi của phong trào cách mạng và chính sách đúng đắn của Đảng, của mặt trận Việt Minh, nội các Trần Trọng Kim đã diễn ra sự phân hóa sâu sắc. Một số thành viên trong nội các này đã đi theo cách mạng.
Gần một tháng sau khi nội các của Trần Trọng Kim ra đời, ngày 16 – 5 – 1945, một tổ chức chính trị khác là Hội Tân Việt Nam được thành lập, đã thu hút được khá nhiều tri thức có tên tuổi và dùng tờ báo Thanh Nghị để cổ động ảnh hưởng trong giới tri thức, thanh niên học sinh. Tổ chức này tồn tại được hơn một tháng, thì trước sự tác động mạnh mẽ của cao trào cách mạng của quần chúng, của đường lối chính sách đúng đắn của Đảng, của mặt trận Việt Minh, nên nhanh chóng bị  phân hóa sâu sắc rồi tan rã, và một bộ phận khá đông trí thức có tên tuổi tham gia tổ chức này đã trở thành những thành viên của Mặt trận Việt Minh.
Cùng với sự ra đời của Nội các Trần Trọng Kim, Hội Tân Việt Nam…ngày 26/05/1945, vua Bảo Đại ra đạo dụ về việc thành lập “Hội nghị tư vấn Quốc gia”. Hoạt động của Hội nghị tư vấn quốc gia ngay từ đầu đã bị tê liệt và nhiều thành viên của tổ chức này đã nhạnh chóng thức tỉnh, ngả theo cách mạng, gia nhập hàng ngũ Việt Minh.
Những hoạt động xây dựng lực lượng chính trị cách mạng của Đảng và Mặt trận Việt Minh trên đây đã góp phần quan trọng vào việc giành chính quyền ở các huyện, các tỉnh, giúp Tổng khởi nghĩa tháng Tám được tiến hành thuận lợi và nhanh chóng hơn.
Ngày 13/8/1945, ngay sau khi nhận được những thông tin Nhật Bản sắp đầu hàng, Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh lập tức thành lập Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc. 23h cùng ngày, Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc ban bố “quân lệnh số một”, chính thức phát lệnh tổng khởi nghiax trong cả nước. Cách mạng tháng Tám năm 1945 bắt đầu.
Trong cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945, dưới sự chỉ đạo của Đảng,Mặt trận Việt Minh đã có vai trò rất lớn trong việc tập hợp quần chúng nhân dân nhất loạt đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền.
Tại Hà Nội, Mặt trận Việt Minh đã tập hợp quần chúng Cách mạng để từ đó tiến hành mít tinh tuần hành đòi chính quyền, lật đổ bù nhìn tay sai tại các trung tâm đầu não của thành phố như: Phủ Khâm sai Bắc Bộ, Sở Mật thám, Sở cảnh sát Trung ương, Sở bưu điện, Trại bảo an binh…Dưới sự tập hợp của Việt Minh và khí thế cách mạng sục sôi của quần chúng nhân dân, cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở Hà Nội đã kết thúc hoàn toàn thắng lợi vào tối 19/8/1945.
Tại các tỉnh, thành phố khác trong cả nước, Mặt trận Việt Minh cũng đã tập hợp quần chúng nhân dân nhất loạt đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền, lật đổ thực dân phong kiến và tay sai.
Bên cạnh đó, trước sức mạnh của quần chúng nhân dân, trước chính sách đúng đắn, mềm dẻo của Đảng và của Mặt trận Việt Minh, một số không nhỏ những người làm việc trong bộ máy nguỵ quyền, một số người cầm đầu của các tôn giáo, dân tộc thiểu số; một số phú nông, địa chủ tư sản đã ngả theo cách mạng. Ở những nơi phong trào cách mạng phát triển mạnh, nhiều lý trưởng, chánh tổng, tri phủ, tri huyện và một số tỉnh trưởng ngụy tìm cách liên lạc với cán bộ Việt Minh, thanh minh về thái độ chính trị của họ và tự nguyện hứa sẵn sàng trao chính quyền cho cách mạng.
Với những chủ trương, chính sách đúng đắn, phù hợp với nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân, Việt Minh đã thu hút được mọi lực lượng yêu nước dân tộc không những công, nông, tiểu tư sản, trí thức mà cả giai cấp tư sản dân tộc, bộ phận yêu nước trong giai cấp địa chủ, những người lầm đường lạc lối trong hàng ngũ địch, các tôn giáo, các dân tộc đều tham gia mặt trận trong các tổ chức thích hợp, phong phú như: Phụ lão cứu quốc, thanh niên cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Cồng nhân cứu quốc, nông dân cứu quốc…hình thành nên lực lượng chính trị hùng hậu của cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng; động viên được sức mạnh cả dân tộc, thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, phân hóa và cô lập kẻ thù nhằm chĩa mũi nhọn đấu tranh đánh đổ chúng, kết quả đã đưa cách mạng đến thắng lợi cuối cùng.
·        Xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, tạo nên sức mạnh tổng hợp để nổi dậy khởi nghĩa giành chính quyền thành công ngay khi thời cơ đến.
Trên cơ sở lực lượng chính trị đông đảo của quần chúng nhân dân do Mặt trận Việt Minh tập hợp, Đảng đã chỉ đạo việc vũ trang cho quần chúng Cách mạng từng bước xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân. Với tinh thần đó, ngày 22/12/1944 Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân do đồng chí Võ Nguyên Giáp tổ chức và lãnh đạo đã được thành lập trong khu rừng thuộc huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng. Đội gồm 34 chiến sĩ là những người Cách mạng được tập hợp dưới lá cờ Việt Minh. Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân phát triển nhanh chóng.
Cuối tháng 4 năm 1945 Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị quân sự Cách mạng Bắc Kỳ tại Hiệp Hòa(Bắc Giang) nhằm giải quyết một số vấn đề quân sự. Hội Nghị đã nhận định: “Tình thế đã đặt nhiệm vụ quân sự lên trên tất cả các nhiệm vụ quan trọng và cần kíp lúc này”. Hội nghị cũng quyết định phát triển lực lượng vũ trang, nửa vũ trang và thống nhất các lực lượng vũ trang sẵn có thành Việt Nam giải phóng quân. Việt Nam giải phóng quân được thành lập vào ngày 15/05/1945, tích cực củng cố, chuẩn bị và hoạt động, tiến tới Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945.
Ngay sau khi Ủy ban khởi nghĩa ra quân lệnh số 1 vào 23 giờ ngày 13/08/1945, chính thức phát động Tổng khởi nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Mặt trận Việt Minh, sự chỉ đạo trực tiếp của Ủy ban khởi nghĩa và Ủy ban lâm thời Khu giải phóng, ngày 16/08/1945, một đơn vị Quân giải phóng đã tiến công thị xã Thái Nguyên, kết hợp với nhân dân giành chính quyền. Ngày 17/08/1945, Quân giải phóng tiến vào giải phóng thị xã Tuyên Quang.
Tại Hà Nôi, các đội tự vệ vũ trang chiến đấu do Việt Minh tổ chức dẫn đầu và bọc lót cho các đoàn biểu tình, tuàn hành của quần chúng nhân dân ta.
Tại các địa phương khác, lực lượng vũ trang cũng phối hợp chặt chẽ và tích cực hỗ trợ nhân dân đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền.
Trên cơ sở phát triển các đoàn thể cứu quốc trong Mặt trận Việt Minh, lực lượng vũ trang cách mạng đã từng bước hình thành và phát triển, tạo nên sức mạnh tổng hợp để nổi dậy khởi nghĩa giành chính quyền ngay khi thời cơ đến. Mặt trận Việt Minh có công lao rất lớn trong việc phát triển lực lượng vũ trang cách mạng của nước ta.
·        Việt Minh còn đóng vai trò rất lớn trong việc xây dựng các căn cứ địa Cách mạng (Cao – Bắc – Lạng, Tân Trào, Bắc Sơn – Võ Nhai,…), thực hiện thí điểm các chính sách và các yếu tố, tổ chức trong việc xây dựng chính quyền Cách mạng mới(Khu căn cứ Việt Minh ở Cao Bằng, chính sách mười điểm lớn của Việt Minh, tổ chức đại hội Quốc dân Tân Trào,…) tạo ra những cơ sở vững chắc đảm bảo thắng lợi cho cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945.
Mặt trận Việt Minh đã tập hợp được đông đảo quần chúng nhân dân, hình thành nên lực lượng chính trị hùng hậu của cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng; động viên được sức mạnh cả dân tộc, thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, phân hóa và cô lập kẻ thù nhằm chĩa mũi nhọn đấu tranh đánh đổ chúng.Trên cơ sở phát triển các đoàn thể cứu quốc trong Mặt trận Việt Minh, lực lượng vũ trang cách mạng đã từng bước hình thành và phát triển, tạo nên sức mạnh tổng hợp để nổi dậy khởi nghĩa giành chính quyền khi thời cơ đến. Mặt trận Việt Minh có công lớn trong việc phát triển lực lượng vũ trang cách mạng, trong việc chỉ đạo phong trào kháng Nhật cứu nước, tạo tiền đề cho cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám, trong việc triệu tập và tiến hành thành công Quốc dân Đại hội Tân Trào ngày 16 và 17/8/1945, huy động nhân dân tham gia Tổng khởi nghĩa tháng Tám, dưới sự lãnh đạo của Đảng, giành được thắng lợi. Trong những ngày Tổng khởi nghĩa, lá cờ đỏ sao vàng năm cánh của Mặt trận Việt Minh tung bay trong cả nước và trở thành Quốc kỳ của nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà, được Quốc hội khoá I thông qua.Việc thành lập Mặt trận Việt Minh là một sáng tạo của Đảng và Hồ Chí Minh, là một điển hình thành công trong công tác mặt trận của Đảng ta.
III, Ý nghĩa lịch sử:
Đứng trước bài toán thời cuộc đầy phức tạp Đảng cộng sản Việt Nam và Mặt trận Việt Minh đã tìm được lời giải đúng đắn: Tổng khởi nghĩa tháng tám và thành lập chính quyền Việt Nam dân chủ cộng hòa. Từ đó có thể rút ra một vài bài học kinh nghiệm như sau:
Một là, sự thành lập mặt trận Việt Minh không phải là một hiện tượng đột biến trong cuộc đấu tranh chống phát xít, Việt Minh là sự tiếp nối đường lối mặt trận dân tộc thống nhất do Đảng công sản đề ra từ năm 1930. Đó là sự tiếp tục mặt trận phản đế trên cơ sở hoàn chỉnh bước chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng khi chiến tranh thế giới bùng nổ. Đó là lý do chủ yếu làm cho Việt Minh xuất hiện khá sớm sau khi Phát xít Nhật xâm lược Việt Nam
Hai là, vấn đề cốt lõi được đặt lên hàng đầu là giải phóng dân tộc. Nhiệm vụ cơ bản được khẳng định là đoàn kết rộng rãi mọi lực lượng yêu nước để đấu tranh cho nền độc lập, giành lấy chính quyền và thành lập nhà nước Dân chủ Cộng hòa. Với mục tiêu đó mọi lực lượng cản trở nền độc lập đêỳ là kẻ thù của dân tộc; trước đây là Pháp, sau tháng 9 – 1940 là đế quốc phát xít Pháp - Nhật và sau cuộc đảo chính tháng 3 -1945 là Nhật. Việc xác định một cách dứt khoát kẻ thù của nền độc lập làm cho việc chỉ đạo cách mạng được tiến hành nhất quán, triệt để không một chút mơ hồ, không để cơ hội cho thực hiện, không để cơ hội cho thực dân Pháp lập lại nền thống trị thực dân.
Ba là, mặt trận dân tộc thống nhất về nguyên tắc là sự liên kết rộng rãi các lực lượng có cùng một mục tiêu đấu tranh. Mối quan hệ giữa các thành viên trong mặt trận phản ánh tương quan lực lượng trong thực tế. Các nhóm phái hoặc cá nhân tham gia Mặt trận Việt Minh, đều thừa nhận sự lánh đạo của Đảng cộng sản và lãnh tụ Hồ Chí Minh. Trên thực tế, Việt Minh là người chủ thực sự của tình hình, là lực lượng đoàn kết dân tộc, đưa cách mạng đến thắng lợi hoàn toàn.
Bốn là, trong cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, nhiệm vụ giải phóng dân tộc gắn liền với nhiệm vụ đấu tranh chống phát xít. Điều đó cho phép các mặt trận dân tộc các nước liên hệ và tìm kiếm sự giúp đỡ của các lực lượng đồng minh; Miến Điện, Mã Lai nhờ vào Anh; Thái Lan, Philippin trông vào Mỹ; Việt Minh cũng bắt liên lạc và tranh thủ được một vài sự giúp đỡ nào đó về phương tiện kỹ thuật của Mỹ, đồng thời giữ thái độ thân thiện Tưởng. Nhưng điều cơ bản là Đảng khẳng định phải tự thực hiện sự nghiệp cứu nước, không được ỷ lại vào bên ngoài cũng như không mơ hồ về dã tâm của Mỹ - Tưởng trong ý đồ xâm chiếm nước ta. Cho nên ở Việt Nam không diễn ra hiện tượng quân đồng minh vào “giải phóng” cho ta mà ngược lại, sau khi thành lập chính quyền Dân chủ Cộng hòa, ta đóng vai người dân chủ đón tiếp đồng minh vào giải phóng quân Nhật.
Năm là, Mặt trận Việt Minh bằng công tác vận động quần chúng sâu rộng và phương pháp tổ chức chặt chẽ đã sớm hình thành một Khu giải phóng ở Việt Bắc. Tại những nơi đó, Việt Minh đồng thời thực hiện chức năng của một chính quyền nhân dân trên cơ sở 10 chính sách được quần chúng hưởng ứng. Đó là một bước thực tập cần thiết để đến giữa tháng tám, xây dựng được ngay một chính quyền cách mạng trên quy mô cả nước.
KẾT LUẬN
Việt Minh ra đời là kết quả của một quá trình vận động cách mạng ở Việt Nam, kết quả thắng lợi của tư tưởng độc lập, tự do và chiến lược đại đoàn kết dân tộc Hồ Chí Minh, của Đảng ta; kết quả của một tư tưởng khoa học và sáng tạo, khắc phục tư tưởng ấu trĩ, “tả khuynh”, giáo điều rập khuôn.
Cuộc tổng khởi nghĩa tháng tám năm 1945 của nhân dân Việt Nam bằng sức mạnh đoàn kết dân tộc đã giành được thắng lợi, mục tiêu cứu nước của Việt Minh đã trở thành hiện thực. Việt Minh đã trở thành một tổ chức mặt trận tiêu biểu, hoàn chỉnh, sáng chói như một mốc son đánh dấu sự ra đời của mặt trận dân tộc thống nhất trong cách mạng Việt Nam.

Related Post

Previous
Next Post »